Thứ Ba, 26 tháng 3, 2013
Máy đo tiểu đường tại nhà

Máy đo tiểu đường tại nhà

Máy đo đường huyết OneTouch Ultra 2

Model: Ultra 2
Hãng sản xuất: Johnson
Xuất xứ hãng: Mỹ
Nơi sản xuất: CHLB Đức.
ONETOUCH ULTRA 2 được sản xuất bởi tập đoàn Lifescan - Johnson & Johnson (USA) Với bề dầy king nghiệm trong lĩnh vực thiết bị y tế hãng đã cho ra đười sản phẩm được ưa chuộng trên toàn thế giớ
ĐẶC TÍNH SẢN PHẨM :
Là nhãn hiệu máy thử đường huyết bán chạy nhất tại Mỹ, nay đã có mặt tại thị trường Việt Nam. Máy có nhiều ưu điểm như độ chính xác cao, ít đau và dễ sử dụng nên rất thích hợp cho các bác sĩ dùng tại phòng mạch và có nhiều tiện lợi cho bệnh nhân dùng để theo dõi đường huyết tại nhà, đâu là model máy đặc biệt vì có tính năng đo được đường Glucose, insulin, aced urich trong máu.
A. Ưu điểm của máy
1.  Độ chính xác: chính xác 99% đạt tiêu chuẩn chất lượng của liên minh châu âu CE.
Độ chính xác của máy ONETOUCH ULTRA 2 đã được chứng minh một nghiên cứu lâm sàng thực hiện trên 44,759 mẫu máu của 10,758 bệnh nhân tại nước anh trong thời gian 4 năm (2001-2004). kết quả nghiên cứu cho thấy máy đạt độ chính xác 99% .
- Máy ONETOUCH ULTRA 2 đo được insulin trong máu, máy đặc biệt dành cho bệnh nhân tiểu đưởng type 1, bệnh nhân phụ thuộc insulin.
- Đo lượng đường Glucose trong máu giúp theo dõi, kiểm soát bệnh đái tháo đường
- Máy có đèn, bộ nhớ máy lớn, que thử dễ kiếm.
Máy đo đương huyết Onetouch ultra 2 gồm có:
- Máy đo: 1 than máy mới
- Bút lấy máuJ: 1 bút lấy máu không đau
- Hộp que thử đi kèm: 1 hộp 10 que thử
- Túi kim đi kèm: 10 kim lấy máu
- Bao đựng máy và thiết bị đi kèm
- Bộ sách hướng dẫn sử dụng máy bằng 5 ngôn ngữ. Anh, Pháp, Đức,...
- 1 bộ hướng dẫn sử dụng máy bằng tiếng Việt (tóm tắt)
- Phiếu bảo hành bằng tiếng Việt
Thứ Sáu, 22 tháng 3, 2013
Triệu chứng bệnh tiểu đường tuýp 1

Triệu chứng bệnh tiểu đường tuýp 1

Tiểu đường đường tuýp 1 do tụy tạng không tiết insulin, phần lớn xảy ra ở trẻ em và người trẻ tuổi. Nhóm này chiếm khoảng 15% tổng số bệnh nhân bệnh nhân đái tháo đường. Những triệu chứng điển hình của bệnh ĐTĐ tuýp 1 là tiểu nhiều, uống nhiều, đôi khi ăn nhiều, mờ mắt, dị cảm và sụt cân. Chậm phát triển và dễ bị nhiễm trùng. 


Đối với người đái tháo đường thì chế độ ăn uống, luyện tập... là rất quan trọng, người bệnh nên ăn gạo, mì sợi (vừa phải), sữa (không đường) đã được lọc chất béo, sữa chua, lòng trắng trứng gà, thịt nạc, bê, bò, thịt gà (bỏ da), cá, các loại rau, đậu và nên ăn nhiều bữa trong ngày (4 - 5 bữa). Tránh ăn các loại thức ăn có đường, mật, giàu chất béo, lòng đỏ trứng gà, khoai tây rán, hoặc bánh ngọt có nhân hoa quả, coca cola, các loại nước khoáng có đường, cà phê... 
Người mắc bệnh cũng cần có chế độ luyện tập nhẹ nhàng, thích hợp như đi bộ, đạp xe đạp, đánh bóng bàn (không quá 30 phút/lần),,,
Thứ Hai, 18 tháng 3, 2013
Thuốc tiểu đường Diamicron

Thuốc tiểu đường Diamicron

Thuốc tiểu đường Diamicron là loại thuốc được chỉ định dùng cho tất cả các bệnh tiểu đường phải điều trị bằng thuốc uống, tiểu đường không có nhiễm toan cétone hay nhiễm toan acide lactique, tiểu đường type 2 ở người trưởng thành và người lớn tuổi.

Thành phần thuốc tiểu đường Diamicron

Mỗi viên thuốc tiểu đường Diamicron có chứa ( Gliclazide 80mg và Lactose)

Phương diện dược lý học của thuốc tiểu đường Diamicron

Về phương diện dược lý, Diamicron có hai tác động độc lập nhau : tác động trên sự chuyển hóa và tác động đặc biệt trên hệ vi mạch.
Tác động trên sự chuyển hóa :
Diamicron là thuốc gây kích thích bài tiết insuline và làm tăng tác dụng gây bài tiết insuline của glucose.
Diamicron làm tăng đáp ứng ở tụy và gây bài tiết insuline ở pha sớm khi có thức ăn vào cơ thể.
Diamicron do đó làm giảm đường huyết sau các bữa ăn ở bệnh nhân đái tháo đường, được ghi nhận qua các kết quả khảo sát đường huyết liên tục, theo chu kỳ và kết quả định lượng đường huyết sau các bữa ăn.
Nguy cơ gây tụt đường huyết được xem là rất thấp do Diamicron gây hạ đường huyết từ từ và thời gian bán hủy sinh học trung bình (12 giờ) cho phép dùng 2 liều một ngày.
Tác động trên hệ vi mạch :
- đã có kết luận trên lâm sàng về tác dụng làm giảm sự kết dính và kết tập của tiểu cầu, Diamicron làm chậm tốc độ kết tập của tiểu cầu, bình thường hóa hoạt động tiêu giải sợi fibrine ở nội mô của bệnh nhân đái tháo đường týp 1 lẫn týp 2 ;
- trong bệnh võng mạc do đái tháo đường, một nghiên cứu có kiểm soát dài hạn đã được thực hiện so sánh với các thuốc giảm đường huyết cổ điển. Nghiên cứu này cho thấy rằng, khi đạt được cùng một tình trạng cân bằng đường huyết, có sự khác nhau đáng kể về mặt thống kê và kết luận rằng Diamicron làm chậm sự tiến triển của bệnh võng mạc do đái tháo đường, ở giai đoạn chưa phát triển nhiều ;
- trong bệnh thận do đái tháo đường, dùng lâu dài Diamicron không làm thay đổi chức năng thận đang ở mức bình thường hoặc ổn định và đồng thời làm giảm đáng kể protéine niệu, song song với tác động kiểm tra tốt mức huyết áp và đường huyết.

Phương diện dược động học của thuốc tiểu đường Diamicron

Diamicron được hấp thu nhanh qua đường tiêu hóa và đạt nồng độ tối đa trong máu sau 2 đến 6 giờ. Ở người, gắn kết với protéine huyết tương là 94,2%.
Thời gian bán hủy sinh học trung bình của gliclazide trong khoảng 12 giờ ở người, do đó Diamicron có thể được dùng 2 lần trong ngày nhằm đạt được hiệu quả tốt nhất.
Gliclazide được chuyển hóa mạnh : chất chuyển hóa chính ở máu chiếm 2 đến 3% liều uống vào và không có tác động hạ đường huyết nhưng có những tác động huyết sinh học.
Thuốc được đào thải chủ yếu qua thận : dưới 1% liều uống vào được tìm thấy dưới dạng không đổi trong nước tiểu.

Chỉ định khi dùng thuốc tiểu đường Diamicron

Diamicron được dùng cho tất cả bệnh nhân đái tháo đường cần điều trị bằng thuốc uống : đái tháo đường không có nhiễm toan cétone hay nhiễm toan acide lactique, đái tháo đường týp 2 ở người trưởng thành và người lớn tuổi khi sự kiểm soát đường huyết không đạt được bằng chế độ ăn kiêng đơn thuần.

Chống chỉ định khi dùng thuốc tiểu đường Diamicron

- Đái tháo đường ở trẻ em, đái tháo đường khởi phát lúc trẻ.
- Nhiễm toan, nhiễm cétone nặng.
- Hôn mê hay tiền hôn mê do đái tháo đường.
- Suy thận nặng.
- Suy gan nặng.
- Tiền sử bị dị ứng đã biết với sulfamide.
- Phối hợp với miconazole dạng viên (xem Tương tác thuốc : nguy cơ bị hạ đường huyết).
- Phụ nữ có thai : xem Lúc có thai.
Chú ý và đề phòng khi dùng thuốc tiểu đường Diamicron
- Dùng Diamicron vẫn phải theo chế độ ăn kiêng ít năng lượng và (hoặc) ít glucide.
- Phải thực hiện đều đặn các kiểm tra sinh học thông thường như kiểm tra đường huyết lúc đói và sau khi ăn, đường niệu trong 24 giờ.
- Trường hợp có can thiệp phẫu thuật hoặc các nguyên nhân khác cản trở thuốc phát huy tác dụng, cần dự trù insuline để cấp cứu.
Hạ đường huyết :
Hạ đường huyết trung bình hoặc nặng, kể cả hôn mê, có thể xảy ra trong trường hợp :
- Dùng thuốc không đúng chỉ định, trong đái tháo đường chỉ cần kiểm soát bằng chế độ ăn kiêng ;
- Ngộ độc do dùng thuốc quá liều, nhất là ở người già ;
- Dinh dưỡng không đầy đủ hoặc mất cân bằng về hydrate carbone ;
- Suy thận và (hoặc) suy gan đã được xác nhận hoặc kiểm tra bằng các xét nghiệm sinh học. Tuy nhiên, trong các khảo sát lâm sàng dài hạn, Diamicron có thể được dùng với liều chia nhỏ ra ở những bệnh nhân có rối loạn chức năng thận và không làm trầm trọng thêm tình trạng này.
Để tránh việc hạ đường huyết :
- Nên bắt đầu điều trị đái tháo đường týp 2 bằng một giai đoạn áp dụng chế độ ăn kiêng ít glucide và ít năng lượng, thường xuyên kiểm tra đường huyết lúc đói và sau khi ăn, nếu được thì chỉ dùng chế độ ăn kiêng để điều trị ;
- Cũng nên chú ý đến tuổi tác của bệnh nhân ; ở người già, tuổi càng cao thì khả năng bị hạ đường huyết càng lớn và khả năng kiểm soát bằng chế độ ăn kiêng càng thấp ;
- Khi kê toa, liều phải được nâng từ từ và thật thận trọng trong những ngày đầu điều trị, theo dõi đường huyết lúc đói và sau khi ăn cũng như đường niệu trong 24 giờ.
Do đó việc đánh giá lại liều lượng có thể là cần thiết :
- Trường hợp có biểu hiện hạ đường huyết trung bình hoặc nhẹ (đổ mồ hôi, xanh tái, đói cồn cào, tim đập nhanh, bất ổn) : trước tiên cần cho bệnh nhân ngậm đường, sau đó đánh giá lại chế độ tiết thực hoặc điều trị tùy theo nguyên nhân, có thể giảm liều hoặc ngưng dùng thuốc ;
- Trường hợp hạ đường huyết nặng (xem Quá liều) ;
- Trường hợp đường huyết vẫn còn cao, tăng liều từ từ và nếu vẫn không kiểm soát được, có thể tạm thời sử dụng insuline.
Lúc có thai
Chống chỉ định.
Tương tác thuốc
- Hạ đường huyết nặng (hôn mê) được ghi nhận khi phối hợp một vài loại sulfamide hạ đường huyết (glibenclamide, gliclazide) với miconazole dạng uống. Do đó chống chỉ định phối hợp Diamicron với thuốc này.
Hạ đường huyết cũng được báo cáo trong những trường hợp :
tăng tác động hạ đường huyết gây ra bởi các thuốc kháng viêm không stéroide (đặc biệt là các salicylate), sulfamide kháng khuẩn, coumarine, IMAO, thuốc ức chế bêta, diazépam, tétracycline, perhexiline maléate, chloramphénicol, clofibrate. Uống rượu cũng có thể làm tăng tác dụng hạ đường huyết.
- Các barbiturate có thể làm giảm tác động của Diamicron.
- Một vài thuốc (corticoide, thuốc lợi tiểu, estroprogestatif) có thể làm mất cân bằng đường huyết trong chiều hướng làm tăng đường huyết.
Tác dụng ngoài ý muốn của thuốc tiểu đường Diamicron
- Phản ứng da-niêm mạc, đặc biệt là ngứa, phát ban, nổi mề đay. Các triệu chứng này sẽ giảm dần và biến mất vài ngày sau khi ngưng điều trị.
Mặc dầu một vài trường hợp viêm da có bọng nước (hội chứng Lyell) được ghi nhận khi dùng sulfamide hạ đường huyết, tuy nhiên đối với Diamicron, cho đến nay không có trường hợp nào được ghi nhận.
- Rối loạn tiêu hóa rất hiếm khi xảy ra : buồn nôn, mửa, đau dạ dày, tiêu chảy, táo bón. Các rối loạn này sẽ giảm rất nhiều nếu dùng thuốc trong các bữa ăn.
- Rối loạn ở gan : rất hiếm khi gặp vàng da tắc mật do dị ứng với sulfamide hạ đường huyết : cho đến nay, chưa có trường hợp nào được ghi nhận với Diamicron.
- Rối loạn ở máu, thường hồi phục khi ngưng điều trị : các rối loạn này ngoại lệ có thể xảy ra ở những bệnh nhân nhạy cảm với sulfamide : giảm tiểu cầu, mất bạch cầu hạt hoặc giảm bạch cầu, thiếu máu.
Liều lượng và cách dùng thuốc tiểu đường Diamicron
Trong tất cả các dạng đái tháo đường không kiểm soát được bằng chế độ ăn kiêng đơn thuần.
Đái tháo đường ở người béo phì :
Trong đa số trường hợp : 2 viên mỗi ngày chia làm 2 lần.
Đối với Diamicron, liều dùng có thể linh động và có thể thích nghi trong mọi trường hợp :
- 1 viên trong đái tháo đường nhẹ ;
- 3 viên trong đái tháo đường nặng hơn.
Trường hợp điều trị thay thế, ngưng thuốc đã được chỉ định trước đó và sau đó chỉ định dùng Diamicron.
Việc ổn định đường huyết có liên quan đến việc sụt cân. Trường hợp không ổn định được đường huyết, cần kiểm tra lại chế độ tiết thực có được chấp hành tốt không, và tùy tình hình có thể điều chỉnh lại liều dùng Diamicron.
Đái tháo đường ở người có trọng lượng bình thường, không phụ thuộc insuline :
Áp dụng chế độ ăn kiêng, sau đó chỉ định dùng Diamicron. Trong đa số trường hợp : 2 viên mỗi ngày chia làm 2 lần.
Đối với Diamicron, liều dùng có thể linh động và có thể thích nghi trong mọi trường hợp :
- 1 viên trong đái tháo đường nhẹ ;
- 3 viên trong đái tháo đường nặng hơn, ngoại lệ có thể tăng đến 4 viên.
Trường hợp điều trị thay thế, ngưng thuốc đã được chỉ định trước đó và sau đó chỉ định dùng Diamicron.
Ở những bệnh nhân rất khó ổn định lại đường huyết, có thể nghĩ rằng đái tháo đường đã ở tình trạng rất xấu, cần dùng đến insuline.
QUÁ LIỀU
Vô tình hay cố ý dùng thuốc quá liều chủ yếu đưa đến các biểu hiện hạ đường huyết.
Trong các trường hợp nặng, nếu có biểu hiện mù mờ ý thức : phải dùng ngay lập tức dung dịch đường ưu trương 10% hoặc 30% bằng đường tĩnh mạch, sau đó đưa bệnh nhân nhập viện.
Thứ Sáu, 15 tháng 3, 2013
Cách phòng bệnh tiểu đường

Cách phòng bệnh tiểu đường

Tiểu đường là một căn bệnh mãn tính do rối loạn chuyển hóa chất đường glucose trong máu khi tuyến tụy không sản xuất đủ hoặc cơ thể giảm tác đáp ứng với tác dụng của insulin làm cho chất đường glucose trong máu không đi đến được các tế bào, biểu hiện của bệnh tiểu đường bằng mức đường trong máu luôn tăng cao. Khi lượng đường trong máu luôn tăng cao sẽ làm đau tim, ảnh hưởng đến não, thận, mạch máu và răng của con người, gây mất thị giác, chức năng sinh dục hay thậm chí gây tử vong. Vậy có cách nào để phòng bệnh tiểu đường không giờ chúng ta sẽ cùng tìm hiểu về vấn đề này.
Theo như nhận định của các nhà khoa học mặc dù chưa xác định nguyên nhân chính xác gây ra bệnh tiểu đường nhưng những yếu tố di truyền, yếu tố xã hội cũng là một trong những nguyên nhân góp phần làm gia tăng căn bệnh tiểu đường như thừa cân, béo phì, thói quen ăn uống sinh hoạt không lành mạnh cùng với thói quen lười vận động. Vậy khi soi vào các yếu tố này chúng ta sẽ tìm ra cách phòng bệnh tiểu đường một cách hiệu quả nhất dưới đây.

Cách phòng bệnh tiểu đường hiệu quả

1. Thực hiện chế độ ăn uống lành mạnh


Ăn nhiều loại thức ăn hài hòa cân đối mỗi ngày. Nên ăn hoa quả, rau xanh trước bữa ăn hằng ngày sẽ giúp kiểm soát lượng đường trong máu. Hạn chế ăn các loại thức ăn nhanh, uống nước ngọt, thịt đỏ (ví dụ thịt bò) và các loại thức ăn chế biến sẵn như thịt xông khói, xúc xích... Ăn nhiều ngũ cốc. Ngũ cốc nguyên hạt không chỉ có thân hình đẹp mà còn làm giảm nguy cơ ung thư vú, tiểu đường tuýp 2, huyết áp cao và đột quỵ.

2. Tích cực vận động thể lực


Khoa học đã chứng minh tích cực vận động thể lực không những tăng cường sức khỏe, kéo dài tuổi thọ mà còn giúp phòng bệnh tiểu đường rất hiệu quả. Tập thể dục 1 giờ một ngày. Đi bộ đến mức có thể. Các nhà khoa học Phần Lan nhận định, luyện tập khoảng 4 tiếng mỗi tuần, tức 35 phút mỗi ngày, kết quả là giảm được 80% nguy cơ tiểu đường.

3. Tránh bị stress

Do cuộc sống với nhiều áp lực khiến bạn thường xuyên cảm thấy căng thằng, nếu như bạn không biết cách kiểm soát để tình trạng căng thẳng kéo dài sẽ làm ảnh hưởng rất nhiều đến sức khỏe làm tăng nguy cơ mắc các bệnh về tim mạch, huyết áp và bệnh tiểu đường. Vậy để phòng bệnh tiểu đường bạn hãy tự tạo cho mình một đời sống về mặt tinh thần thật lành mạnh, nếu bị stress thường xuyên thì hãy học cách kiểm soát chúng.
Để thư giãn bạn có thể áp dụng một số phương pháp tập luyện như: yoga, ngồi thiền... để bắt đầu ngày mới. Khi thấy căng thẳng hãy hít thở thật sâu, hít thở sâu giúp cho tình thần bạn thoải mái hơn rất nhiều. Hãy tập chúng trở thành thói quen của bạn điều đó sẽ giúp bạn ngăn chặn sự xuất hiện của bệnh tiểu đường.
Thứ Ba, 12 tháng 3, 2013
Tiểu đường thai kỳ có nguy hiểm không?

Tiểu đường thai kỳ có nguy hiểm không?

Tiểu đường thai kỳ có nguy hiểm không ? Tiểu đường thai kỳ tuy không gây ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe người mẹ nhưng nếu thai phụ không kiểm soát tốt đường huyết của mình thì rất khó tránh khỏi gặp phải các biến chứng thai sản nguy hiểm ảnh hưởng đến sự an toàn cho cả mẹ và bé.

Tiểu đường thai kỳ là gì ?

Bệnh tiểu đường thai kỳ là một loại bệnh tiểu đường mà chỉ xảy ra trong thai kỳ. Cũng giống như các hình thức khác của bệnh tiểu đường, bệnh tiểu đường thai kỳ ảnh hưởng đến cách cơ thể sử dụng đường (glucose), nguồn nhiên liệu chính của cơ thể. Bệnh tiểu đường thai kỳ có thể gây ra mức đường huyết cao mà không có khả năng gây ra vấn đề cho bản thân, nhưng có thể đe dọa sức khỏe của thai nhi.

Triệu chứng tiểu đường thai kỳ

Đối với hầu hết phụ nữ, bệnh tiểu đường thai kỳ không gây ra dấu hiệu hoặc triệu chứng đáng chú ý. Hiếm khi bệnh tiểu đường thai kỳ có thể gây ra khát nước quá mức hoặc đi tiểu tăng lên.
Bệnh tiểu đường thai kỳ thường không có triệu chứng. Đó là lí do mà hầu hết phụ nữ mang thai nên thực hiện xét nghiệm đường huyết vào tuần thai thứ 24-28.
Tuy nhiên, nếu bạn đang có nguy cơ mắc bệnh tiểu đường cao hoặc đang có những dấu hiệu của bệnh (chẳng hạn như có đường trong nước tiểu), bác sĩ sẽ đề nghị bạn thực hiện xét nghiệm này trong lần khám thai đầu tiên và lặp lại xét nghiệm sau đó vào tuần thứ 24-28 nếu kết quả lần đầu tiên là âm tính.
Cũng phải nói thêm rằng, nếu bạn có kết quả xét nghiệm glucose huyết dương tính, chưa hẳn là bạn đã bị tiểu đường thai kỳ. Điều này chỉ có nghĩa rằng bạn sẽ cần thực hiện các xét nghiệm kĩ hơn (thử nghiệm dung nạp đường) để khẳng định chắc chắn.

Yếu tố nguy cơ mắc tiểu đường thai kỳ

Những phụ nữ có nguy cơ cao nhất là những người đang mắc bệnh tiểu đường hoặc đã từng mắc tiểu đường thai kỳ trong lần mang thai trước đó, hay những người sinh một hoặc nhiều con có trọng lượng “đáng nể” khi mới chào đời. Những phụ nữ thừa cân và những phụ nữ từng sảy thai hay tiền sản giật cũng có nguy cơ cao.
Ngoài ra, những nhóm phụ nữ sau cũng có nguy cơ:
- Những bà mẹ lớn tuổi (có khuynh hướng phát triển bệnh đái tháo đường do tuổi tác).
- Những phụ nữ mắc bệnh huyết áp cao.
- Những phụ nữ mà từng có trọng lượng quá khổ sau sinh (nặng hơn 4kg).
- Những phụ nữ mà có cha/mẹ hay anh/chị em ruột mà từng phải tiêm insulin bổ sung.

Tiểu đường thai kỳ có nguy hiểm không – Các biến chứng tiểu đường thai kỳ

Hầu hết phụ nữ bị bệnh tiểu đường thai kỳ mang đứa con khỏe mạnh. Tuy nhiên, thai bệnh tiểu đường mà không quản lý cẩn thận có thể dẫn đến không kiểm soát được lượng đường trong máu và các vấn đề gây ra cho bản thân và con.
Các biến chứng có thể ảnh hưởng đến em bé
Nếu  bị tiểu đường thai kỳ, em bé  có thể có nguy cơ:
Vượt quá tăng trưởng. Thêm đường sẽ đi qua nhau thai, gây nên tuyến tụy của bé sản xuất thêm insulin. Điều này có thể gây ra em bé phát triển quá lớn (macrosomia). Trẻ lớn có nhiều khả năng trở thành khó sinh, duy trì thương tích sinh.
Lượng đường huyết thấp (hạ đường huyết). Đôi khi trẻ sơ sinh của bà mẹ bị tiểu đường thai kỳ phát triển đường trong máu thấp (hạ đường huyết) ngay sau khi sinh vì tự sản xuất insulin của họ là cao. Nặng của vấn đề này có thể gây co giật ở trẻ. Cho ăn và đôi khi là một giải pháp đường tĩnh mạch có thể trở lại mức độ đường máu của con bình thường.
Hội chứng suy hô hấp. Một điều kiện mà làm cho hơi thở khó khăn là có thể. Em bé có mẹ bị tiểu đường thai kỳ có vấn đề về hô hấp nhiều hơn những phụ nữ không có vấn đề, ngay cả ở cùng tuổi thai. Những đứa trẻ có hội chứng suy hô hấp có thể cần giúp thở cho đến khi phổi trở nên mạnh mẽ hơn.
Vàng da. Điều này đổi màu vàng của da và lòng trắng của mắt có thể xảy ra nếu gan của bé chưa đủ trưởng thành để phá vỡ một chất gọi là bilirubin, thường các hình thức khi cơ thể tái chế các tế bào máu đỏ cũ hoặc bị hư hỏng. Mặc dù vàng da thường không phải là nguyên nhân cho sự quan tâm, theo dõi cẩn thận là quan trọng.
Tiểu đường loại 2 sau này. Em bé của bà mẹ bị bệnh tiểu đường thai kỳ có nguy cơ cao của bệnh béo phì phát triển và loại 2 bệnh tiểu đường sau này.
Vấn đề phát triển. Nếu bị tiểu đường thai kỳ, con có thể có nguy cơ gia tăng của các vấn đề với phát triển kỹ năng vận động, như đi bộ, nhảy hoặc các hoạt động khác đòi hỏi phải có sự cân bằng và phối hợp. Một nguy cơ gia tăng của các vấn đề quan tâm hoặc các rối loạn tăng động cũng là một mối quan tâm.
Hiếm khi, kết quả không được điều trị bệnh tiểu đường trong cái chết của bé trước hoặc ngay sau khi sinh.
Các biến chứng có thể ảnh hưởng đến bà mẹ
Bệnh tiểu đường thai kỳ cũng có thể làm tăng nguy cơ cá nhân:
Tiền sản giật. Bệnh tiểu đường thai kỳ làm tăng nguy cơ tiền sản giật, một điều kiện đặc trưng bởi huyết áp cao và protein dư thừa trong nước tiểu sau tuần thứ 20 của thai kỳ. Nếu không điều trị, tiền sản giật có thể dẫn đến biến chứng nghiêm trọng hoặc thậm chí đe dọa tính mạng cho cả mẹ và bé.
Nhiễm trùng đường tiểu. Phụ nữ có trải nghiệm bệnh tiểu đường thai kỳ, hai lần số lượng nhiễm trùng đường tiểu trong khi mang thai hơn so với phụ nữ khác mang thai. Điều này có thể do đường dư thừa trong nước tiểu.
Tương lai bệnh tiểu đường. Nếu bị tiểu đường thai kỳ, có nhiều khả năng có nó một lần nữa với một thai kỳ trong tương lai. Cũng có nhiều khả năng phát triển bệnh tiểu đường, thường là tiểu đường loại 2 khi  già đi. Tuy nhiên, việc lựa chọn lối sống lành mạnh như ăn thức ăn lành mạnh và tập thể dục có thể giúp giảm nguy cơ bệnh tiểu đường loại 2 trong tương lai. Trong số những phụ nữ có tiền sử bệnh tiểu đường thai kỳ người đã đạt đến trọng lượng cơ thể lý tưởng của mình sau khi sinh, ít hơn 25 phần trăm phát triển tiểu đường loại 2.

Phải làm gì khi bị tiểu đường thai kỳ.

Bệnh tiểu đường thai kỳ thực sự nguy hiểm ảnh hưởng đến cả mẹ và bé nếu như người mẹ không biết kiểm soát được tốt đường huyết của mình. Nếu như thai phụ bị mắc tiểu đường thai kỳ thì cần đến các cơ sở y tế để được thăm khám theo dõi trong suốt quá trình điều trị. Ngoài dùng thuốc điều trị thai phụ cần có một chế độ dinh dưỡng và vận động hợp lý để tránh các nguy cơ gặp phải biến chứng.
Thứ Tư, 6 tháng 3, 2013
Biểu hiện bệnh tiểu đường

Biểu hiện bệnh tiểu đường

Biểu hiện bệnh tiểu đường là cơ thể không thể xử lý đường một cách bình thường. Câu hỏi đặt ra là “Liệu có thể chữa được bệnh tiểu đường hay không?”. Khi chúng ta ăn hoặc uống, tuyến tụy tạo ra một loại hóc-môn gọi là insulin. Insulin được giải phóng vào máu và giúp điều chỉnh lượng đường trong máu. Tiểu đường là căn bệnh trong đó quá trình này không hoạt động một cách phù hợp.



Nguyên nhân bệnh tiểu đường
• Không có insulin được sản sinh, thông thường được gọi là tiểu đường tuýp 1 và yêu cầu bệnh nhân phải sử dụng tiêm insulin.
• Insulin được tạo ra nhưng cơ thể trở nên kháng insulin khiến cho insulin không còn hiệu quả. Hiện tượng này thường được gọi là tiểu đường tuýp 2 và đang dần trở nên ngày càng phổ biến.
Vấn đề là ở chỗ mặc dù tiểu đường không liên tục đe dọa cuộc sống nhưng những ảnh hưởng lâu dài của nồng độ đường huyết cao có thể gây tổn hại cho sức khỏe của người bệnh. Tiểu đường nếu như không được kiểm soát và nồng độ đường huyết cao trong thời gian dài có thể gây ra các vấn đề cho các bộ phận trên cơ thể như thận, mắt, dây thần kinh và tim. Điều này nghe có vẻ rất khắc nghiệt nhưng kiểm soát đường huyết bằng sự kết hợp giữa bài thuốc gia truyền, thủ tục chăm sóc sức khỏe thay thế, chế độ dinh dưỡng và tập luyện sẽ mang lại những hiệu quả bất ngờ.
Cách đơn giản nhất để xem bạn có bị tiểu đường hay không là nhờ bác sĩ kiểm tra đường huyết. Một mẫu máu nhỏ lấy bằng cách trích từ ngón tay được sử dụng để xét nghiệm. Nồng độ đường huyết bình thường là khoảng từ 72 đến 126 mg/dl. Bệnh tiểu đường được chẩn đoán khi cơ thể không có khả năng giữ cho nồng độ đường huyết trong giới hạn này.
Một số người có thể bị tiểu đường trong vài tháng hoặc thậm chí vài năm mà không nhận ra rằng họ đã mắc phải căn bệnh. Chẩn đoán bệnh tiểu đường có thể xuất hiện đột ngột trong quá trình kiểm tra định kỳ nhưng thông thường nó xảy ra sau khi bệnh nhân mắc phải các triệu chứng của căn bệnh.

Sau đây là một số biểu hiện của bệnh tiểu đường:

• Không có triệu chứng. Bạn không hề nghe nhầm. Rất nhiều người không gặp phải sự khác biệt nào trong cảm giác và vô cùng kinh ngạc khi họ biết rằng mình đã bị tiểu đường. Dù bạn có cảm thấy khỏe mạnh hay không đều phải thực hiện kiểm tra chẩn đoán.
• Liên tục khát nước. Bạn có thể uống nước và uống nước sau đó lại uống nước nhưng vẫn cảm thấy khát. Vấn đề càng trở nên tồi tệ hơn trước khi tiểu đường được chẩn đoán nếu như bệnh nhân uống quá nhiều nước ngọt. Nước ngọt làm cho nồng độ đường huyết càng tăng thêm và dẫn tới khát nước vô độ.
• Đi tiểu quá nhiều. Bệnh nhân cần phải đi tiểu thường xuyên và với lượng lớn mỗi lần. Bị thức giấc trong khi đang ngủ say khoảng từ 2 đến 3 lần mỗi đêm là hiện tượng rất phổ biến. Điều này có thể gây ra khó chịu cho rất nhiều người. Nồng độ đường huyết cao giải phóng vào trong nước tiểu. Điều này dẫn tới sự mất nước của cơ thể và khiến cho bệnh nhân luôn cảm thấy khát.
• Sụt cân. Nhiên liệu chính của cơ thể là glucose. Bệnh nhân tiểu đường không thể sử dụng glucose một cách thích hợp nên nó phải phóng vào trong nước tiểu và đi ra khỏi cơ thể. Thiếu nhiên liệu đồng nghĩa với việc các tế bào trong cơ thể không thể sản sinh ra năng lượng. Kết quả là bị sụt cân.
Các triệu chứng khác bao gồm táo bón, thiếu sức sống, ngứa ran hoặc rân rân như kiến bò ở bàn tay và bàn chân, mờ mắt và nhiễm trùng.

Liệu có thể chữa được bệnh tiểu đường hay không?

Với phác đồ điều trị khoa học đã được kiểm chứng bằng thực tế điều trị. Nhà thuốc nam An Dược tự hào đã điều trị căn bệnh này thực sự hiệu quả:

Phác đồ điều trị bệnh tiểu đường:

1. Bệnh nhân tuân thủ nghiêm ngặt chế độ dinh dưỡng theo thực đơn mà nhà thuốc đưa ra. (Thời gian thực hiện từ 1 đến 2 tháng).
2. Bệnh nhân tập những bài tập mà nhà thuốc hướng dẫn hàng ngày để đạt hiệu quả điều trị. (Thời gian thực hiện từ 1 đến 2 tháng).
3. Sử dụng thang thuốc nam (Được hướng dẫn cụ thể từng trường hợp). Bài thuốc nam giúp cho bệnh nhân ổn định đường huyết để ngăn ngừa những biến chứng, đồng thời giúp đào thải độc tố trong tuyến tụy, cung cấp những dưỡng chất bổ sung cho tuyến tụy giúp tuyến tụy được hồi phục và hoạt động trở lại bình thường.
Chủ Nhật, 3 tháng 3, 2013
Triệu chứng đái tháo đường

Triệu chứng đái tháo đường

Đái tháo đường hay còn gọi là bệnh tiểu đường là một dạng bệnh liên quan đến nội tiết do rối loạn chuyển hóa cacbonhydrat khi tụy sản xuất thiếu insulin hoặc cơ thể giảm tác động bởi insulin. Đái tháo đường là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở hầu hết các quốc gia trên thế giới. Chính vì vậy cần phải phát hiện sớm ra bệnh đái tháo đường để có hướng điều trị tốt hơn giúp phòng ngừa biến chứng. Dưới đây là các triệu chứng đái tháo đường thường thấy ở cả 2 loại đái tháo đường type 1 và type 2.

Cảm giác mệt mỏi, thiếu tập chung trong công việc là một trong các triệu chứng đái tháo đường

Các triệu chứng của bệnh đái tháo đường


1. Triệu chứng đái tháo đường type 1

- Biểu hiện lâm sàng xuất hiện  rầm rộ trong đái tháo đường týp 1. Bệnh nhân thường đột ngột có các triệu chứng đái nhiều, khát nước, uống nhiều và gày sút rất nhanh và có thể hôn mê. Ở tiểu đường type 1, các triệu chứng có xu hướng phát triển nhanh trong vòng hai tuần, và mức độ nghiêm trọng hơn.
- Ngoài ra Ở tiểu đường tuýp 1, các triệu chứng ít gặp hơn là: Chuột rút, Táo bón, Nhìn mờ và Nhiễm trùng da tái diễn.

2. Triệu chứng đái tháo đường type 2

- Ở đái tháo đường type 2, các triệu chứng phát triển từ từ và thường nhẹ hơn. Các triệu chứng của bệnh đái tháo đường type 2: Khát không ngừng, Đi tiểu thường xuyên, đặc biệt ban đêm, Mệt mỏi, uể oải, Giảm cân, Ngứa bộ phận sinh dục hoặc bị nấm âm đạo tái diễn.
- Các triệu chứng đái tháo type 2 có thể không được nhận ra trong nhiều năm liền, chỉ tới khi có biến chứng, như loét chân hoặc nhìn mờ thì bệnh mới được chẩn đoán.

Phải làm gì khi thấy các triệu chứng của bệnh đái tháo đường

Với loại đái tháo đường type 1: cần đến bệnh viện xét nghiệm đường máu khi có các triệu chứng đái nhiều, uống nhiều, gày sút cân nhanh sẽ chẩn đoán được bệnh.
Với người đái tháo đường type 2: không nên chờ có triệu chứng mới đi làm xét nghiệm vì như vậy thường là muộn. Nên làm xét nghiệm một cách định kỳ 1-3 năm/lần mới giúp chẩn đoán bệnh ĐTĐ sớm. ĐTĐ không phải là bệnh ‘đái ra đường’ do vậy càng không nên nhờ vào đội ngũ ‘ruồi và kiến’ như trong thời kỳ lac hậu trước đây.
Thứ Sáu, 1 tháng 3, 2013
Điều trị đái tháo đường

Điều trị đái tháo đường

Bệnh tiểu đường hay đái tháo đường đang trở thành căn bệnh thời đại của thế kỷ, đái tháo đường làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng cuộc sống cũng như tính mạng của người bệnh luôn bị dình dập nếu như không phát hiện sớm và điều trị đái tháo đường kịp thời. Chính vì vậy chúng ta phải có cách phòng và điều trị bệnh đái tháo đường hiệu quả để tránh các biến chứng nguy hiểm của bệnh tiểu đường.

Điều trị đái tháo đường ngày nay ngoài chỉ tiêu về glucose máu còn phải chú ý điều chỉnh lipid máu, quản lý số đo huyết áp, điều chỉnh các rối loạn đông máu, phát hiện sớm các biến chứng để có biện pháp ngăn chặn kịp thời.
Bằng cách tiết chế, gia tăng hoạt động thể lực và không hút thuốc, cân nhắc khi uống rượu vì điều này có thể giúp cải thiện đường huyết (ĐH) cũng như những yếu tố nguy cơ ở bệnh đái tháo đường (ĐTĐ) như tăng huyết áp (THA) và rối loạn mỡ máu.

Điều trị đái tháo đường

Nguyên tắc trong điều trị đái tháo đường gồm 3 yếu tố ( Chế độ ăn, Thuốc làm giảm đường huyết, Vận động cơ thể mỗi ngày ).

Chế độ ăn trong điều trị đái tháo đường

Nhu cầu năng lượng của mỗi người là khác nhau phụ thuộc vào cân nặng, mức độ lao động do đó chế độ ăn của mỗi bệnh nhân đái tháo đường cũng khác nhau. Điều quan trọng là cần ăn uống đầy đủ thành phần trong mỗi bữa ăn, nên phân bố các thành phần theo tỉ lệ: carbohydrates 50-60%, chất béo < 30%, protein 10-20%, chất xơ trong chế độ ăn: tối thiểu 20g/1.000Kcalo.
Cần bổ sung vitamin và khoáng chất, có thể không cần bổ sung nếu chế độ ăn cân đối.
Hạn chế bia rượu, tuy nhiên nếu dùng cần tính vào năng lượng tổng cộng (chỉ được dưới 10%).
Phân bố bữa ăn
Có thể dùng chế độ 3 bữa chia đều sáng – trưa – chiều. Ở người bệnh đái tháo đường type 2 không cần ăn nhiều bữa, tuy nhiên bệnh nhân ĐTĐ đang tiêm insulin có thể chia làm 5 bữa (3 bữa chính và 2 bữa phụ). Việc phân bổ thức ăn dù nhiều hay ít vẫn nằm trong tổng số năng lượng đã tính toán.
Trong chế độ ăn cần hạn chế đường hấp thu chậm (các loại thực phẩm có chứa tinh bột, ngũ cốc, củ, hạt như: cơm gạo, bún, bánh mì, khoai… Những thực phẩm này cần ăn với lượng vừa phải và có thể thay thế cho nhau.
Tránh đường hấp thu nhanh: nước ngọt, sữa đặc có đường, chè ngọt, bánh mứt kẹo các loại…
Cần ăn nhiều rau vì rau chứa nhiều chất xơ giúp chậm hấp thu đường và mỡ, thịt cần tiết chế nếu mắc bệnh thận hay suy thận.
Bệnh nhân ĐTĐ cần thường xuyên gặp gỡ các chuyên gia dinh dưỡng để được điều chỉnh chế độ ăn hợp lý và kịp thời.
Ngoài ra người bệnh có thể bổ sung thêm sữa tiểu đường trong chế độ dinh dưỡng của mình nhưng lưu ý khi dùng sữa dành cho người tiểu đường thì chỉ được dùng để thay thế bữa ăn chính khi cần chứ không nên dùng một cách tùy tiện dễ gây tăng đường huyết.

Hoạt động thể lực trong điều trị đái tháo đường

Nên tập thể dục mỗi ngày 30 phút 5 ngày mỗi tuần. Trước khi tập cần kiểm tra tim mạch, mạch vành, thận huyết áp, võng mạc, bàn chân (kiểm tra xem có bị giảm hay mất mạch không, có triệu chứng đau cách hồi, biến dạng bàn chân không).
Cần uống nước đầy đủ, đi giày dép phù hợp để chân không bị chấn thương và khô.
Phải đo đường huyết trước khi tập, nếu đường huyết 14mmol/l (252mg/ dl), có nhiễm ceton thì không nên tập. Khi đường huyết < 6 mmol/l (108mg/dl), có thể ăn thêm 15g carbohydrate.
Luôn có sẵn nguồn đường để xử trí hạ đường huyết như nước ngọt, kẹo.
Nếu luyện tập tích cực cần giảm liều insulin trước khi tập hay bổ sung nguồn carbohydrate. Bài tập được lên kế hoạch và qui định thời gian.
Đối với người bệnh đái tháo đường type 2 mắc béo phì hay quá cân có thể cân nhắc dùng thuốc giảm cân như là thuốc phụ trị.
Trong và sau khi tập cần ngăn ngừa nguy cơ hạ đường huyết như:
- Bổ sung nguồn carbohydrate hay giảm liều insulin.
- Cân nhắc bữa phụ trước giờ đi ngủ.
- Nếu có tăng đường huyết sau luyện tập cho thấy thiếu insulin lúc luyện tập, do đó cần theo dõi ĐH chặt chẽ để chỉnh liều insulin.
Copyright © 2014 All Right Reserved
Designed by